Bão lụt năm thìn 1904

Huy Phong 26/04/2024

Ngày rằm tháng ba, giữa mùa nắng, cỏ khô đất ruộng nứt- nẻ, thình-lình trời kéo mây mù mịt, gió lai-rai, mưa lác đác, lúc 13 giờ trưa tới 3 giờ chiều.

Bão lụt năm thìn 1904
Bão lụt năm thìn 1904

Trời về chiều, gió càng to vùn-vụt, đập mạnh vào vách và máy nhà, cây cối rung động lá rơi, mưa đồ tầm tả.

Đến năm giờ thì màn trời u-ám, bồng xoay chiều gió, là khi phương đông ào ào xô gảy cây và tiếc gốc, vách đồ nhà xiêu. lá cây, lá lợp nhà, tốc bay tứ tung, cây cối nằm la-liệt sát trên
Thình lình nước bề Nam-hải dâng lên, sóng trào vượt cao đến ba thước, ngùn ngụt luôn chảy, đưa rều-rác cây lá nhà cửa, đồ vỡ tan tành, đều trôi theo dòng nước, ngập phủ hết xóm làng.

Người ta chết đuổi và thuyền bè băng chạy lên trên đồng nội. Súc-vật trâu heo, đồ đạc thùng rương nồi lều-bều và trỗi chạy theo sóng lượng. Giữa mênh-mông bề cả, thật là bình địa khởi phong ba

Thơ-bảo nói :
Đời ông chí những đời cha.
Mới thấy trận bão tháng ba lạ lùng. Sống trong bè khô hãi hùng.
Nhà cửa trôi hết áo quần sạch trơn. Rương xe thùng bộng mái lơn.
Thuyền chày cối-giả, chạy bên trên đồng. Xác người xác thú chập chồng.
Sóng dồi rều dập, vun giồng lắp khe.

Vì nước và sóng tràn lên cao gần ba thước, sức gió quá mảnh liệt, xô chạy như núi-băng đê vở, càng quét nhà cửa và cây cối sập ngã, tuông dùa theo sóng vẩy vùng.
Có sáu làng ở gần biên rất nặng, như : Gia-Thuận, Kiêng Phước, Bình-Ân, Tân-bình-Điền, Tăng-Hòa và Tân-Thành. Còn bốn làng cách xa thì hư hại ít hơn, như : Tân-Phước, Tân-niên- Tây, Tân-niên-Đông và Dương-Phước.

Các nơi khác cũng đều bị hư hao, vì gió-bão, nhà sập trắc mái, cây cối ngã nghiên, sập gảy đầy đường. Mực nước ngập, từ sáu tốt đến một thước, nhân mạng được an toàn.
Những người có nhà ở gần biên, mà sống sót được, là nhờ ôm níu được vật chi, hoặc bấu víu vào rều-rác rồi thả trôi theo sống. Có một số người rất may vì bắt được năm ba chiếc thuyền chày, họ leo lên cầm lái, thả xuôi trôi nồi đến đầu hay đó.

Suốt đêm rằm tháng ba, màn trời u-ám, gió mưa tầm tả không ngớt. Có nhiều người lớn tuổi trôi dạt, nhưng còn sống đến nửa đêm, vì ướt dầm gió lạnh không chịu nồi, kiệt-sức rồi
cũng buông tay ngã chết rất thê thảm.
Lời bà lảo thuật lại: Năm ấy tôi 14 tuổi, sống trong gia- đình có sáu người, là bà nội tôi và cha mẹ, tôi với hai em, một cậu 6 tuổi và em nhỏ 8 tháng. Ngày rằm tháng ba, mưa gió từ trưa đến chiều, càng lúc càng mưa to gió lớn, lối 4 giờ chiều,
trong nhà đều ăn cơm nước xong.

Cha tôi thấy gió phương đông rất mạnh, đập vào vách và tung của gãy sập, mái lá tung bay, nên cha tôi lo sợ, hạ bộ váng đề lấy từ tấm váng chỏi chống cửa lại, ràng rịt rất kỷ. Nhưng cũng bị tung xiêu gãy vách, xiên-xẹo cột nhà, đến luồng gió tốc đến bay hết nữa mái nhà. Còn nửa mái nhà, thì sập đè lên trên Vựa lúa.
Cơn hoảng-hốt, lại nghe nhiều tiếng la in-ỏi trên phía đầu gồm : Nước tràn lên rồi. Trời ôi! chạy ngã nào ?. Cha tôi chạy ra xem, rồi lật đật quày vào nhà, trong chốc lác, thì nước ào ào tràn đến, xô dày mái nhà dậy động, sóng nước vùng lên đến đầu cột cái. Vựa lúa của chúng tôi, bị ngập lên đến đâu vựa. Cả nhà đều bò lên trên vựa lúa, nhờ cái mái nhà lá, sập và đậy úp lên trên đầu vựa, che án sóng nước. Một chập có một về rều-rác, từ xa dồn tới tấp lên mái nhà, thành cái bè rất to cản ngăn với sóng.
Nhưng sóng cứ lạc vô lên bè ào-ào, nước bay tung tóe phủ hết chúng tôi. Sóng phủ qua từng đợt, tôi ngồi xem thấy đồ vật nồi trôi ngôn-ngang, đến cả thú vật, trâu heo còn lặn hụp và thuyền chày chạy luông, băng qua trước mặt.

Có thằng nhỏ chặn trâu, bạn của ông nằm ở gần bên xóm nó bị trôi và tấp vào hàng cây tra, cách xa nhà tôi một đồi. Nó kêu to : Ông năm ơi ! ba con trâu trôi đi đâu mất rồi. Tôi trôi về đây, ở trên hàng tra đây, ông ra vớt lôi. Nó cứ kêu hết tiếng hết hơi, không nghe thấy ai trả lời . Rồi lại la làng xóm ôi ! cứu tôi với tôi ! Kêu la thảm thiết, đến tiếng kêu cuối cùng của nó, lắc nghĩ hồi nào, ai cũng không hay, thật là thương hại. Trời sấp về tối, nước càng lên cao, sóng bủa ào ào, dồi lên hụp xuống anh ạch mấy lần, đám bè rung-rinh muốn rã. Cha tôi thấy thế, công lấy bà nội tôi lên vai, rồi vội-vã với một ôm cây và rều khác, thả xuôi theo dòng nước sóng đưa trôi về
hướng bắc.

Mẹ và chị em tôi diễn hồn, trông theo cái rều trôi ra xa xa, còn thấy cái bóng đen-den, là dấu cải khăn xanh của bà nội tôi bịch trùm trên đầu, tôi khóc mà không ra nước mắt. Chốc lác sóng phủ rều đưa đi mất dạng.

Cái mái nhà bị rều nhận thêm, sóng nước đập vào quá mạnh rồi kéo ra, co giãn nhiều lần, đến lúc nó phải rời vựa lúa, lần lần trôi đi, đưa mẹ con chúng tôi về cỏi vô định.
Trong giờ phút kinh-hoàng, thì may mắn, rều của chúng tôi tấp vào một hàng cây, rồi dừng lại không trôi đi nữa.
Trời cứ mưa rầm rĩ, màn trời đen sẫm, giữa đêm trăng lờ mờ, mẹ tôi nhìn dưới nước, thấy nhiều rơm sóng tấp tả. Mẹ tôi nói: Rều mình ngồi đây, cởi lên đồng rơm và mắc lên hàng cây rồi. Nên mẹ tôi tục xuống mé rều, rúc lên từng nắm rơm ướt, rồi vắc nước, phủ lên trên đầu mình chúng tôi. Nhờ rơm phủ kín,chị em tôi ôm sát lại với nhau và ngồi trong lòng mẹ, đở mưa và bớt giá lạnh, quá nửa đêm, gió lần lần diệu, sóng nhỏ và mực nước lưng chừng. Dưới bóng trăng mờ, mẹ tôi sực nhớ em nhỏ, từ hồi chiều đến giờ, không khóc mà cũng không đòi bú, chỉ nằm nhắm mắt chịu gió mưa, thở thoi-thóp, nhờ mảnh áo và cái khăn, mẹ tôi phủ lại và ôm vào lòng. Mẹ tôi dễ khăn lên thì nó vẫn nằm êm như ngủ. Còn em nhỏ sáu tuổi, ngồi thu rút lại kề bên lòng mẹ, không nói năng tiếng nào.
Vì hai em lạnh quá, đều cứng cả hàm răng không khóc la đòi hỏi gì được. Tôi thì tay chân móp tê, thu rút lại, hàm răng cứng và nghiền chặt lại, khi muốn há ra nói không ra lời và
đánh cầm cập.

Mẹ tôi lúc tỉnh hồn, trông thấy đau khô, nhớ đến lúc mà tối, bà nội và cha tôi, trôi nồi đi đâu ? Trông quanh toàn là trời nước mênh-mông, dưới bầu trời xám bạc, màn mưa còn mịt mờ. Ngồi trên chiếc lá lênh đênh, giữa vạn lý trùng dương, không biết đâu là bờ bến.
Cảnh cô quạnh dìu hiu, lạnh lẽo hải hùng, đành gởi mấy phút sống còn trên bề bạc. Bồng chốc thấy ánh sáng từ mặt bề lần lần rọi lên, nhận được là phương đông, sao lại êm lặng nghi ngờ, không nghe tiếng gà gáy, tiếng chim, tiếng trùng dế kêu nhớ lúc thường trước cảnh rạng đông !
Cổ lắng nghe, nhưng thêm vắng lặng, không có một tiếng động. Giờ phút hồi hộp hoang mang, bằng thấy ánh mặt trời vùng lên, càng lúc càng tỏ rõ. Những người sống sót mơ- màng chợt tỉnh lại, nghe tiếng văng vẳng như kêu réo, hỏi han gió xa vọng lại. Ở đây là đâu ? Xứ nào hở ?……
Một đêm trôi nồi lênh-đênh không biết đâu là đâu. Xóm hàng nhà cửa, cây cối, đều chìm đấm trong bề cả.
Chỉ thấy xa xa một vài chóp cây lá xanh xanh, vài đồng rều trôi vất vưởng, không nhận được là xứ nào.
Có một chiếc thuyền chày lưới, bơi đi và kêu to lên: Nơi đây là xứ nào ? Anh em chị em, bà con, ai còn sống ở đầu ? lên tiếng cho chúng tôi đến với cho! Văng vẳng nghe tiếng trả lời: Đây là xóm lá, ở dưới chợ Tông-Châu. Chúng trôi nhà cửa sập hết, trôi dựa vào chòm lá nầy.
Chiếc thuyền ấy bơi vào lá vớt lên được bốn người. Anh trên thuyền nói: Tôi lưới cá ngoài biên, nhà ở Rạch-bùn, thuyền trồi từ chiều hôm qua đến đây, hai anh em tôi còn sống và có vớt được hai người, người này ở Vàm Láng và một người ở Bến-Vựa. Họ rất mừng và bàn bạc với nhau, nên chèo thuyền lên chợ Ông-Tông là hơn.
Nhờ ngóng nghe lời nói chuyện trên chiếc thuyền cách xa, và thấy bóng đen chập chờn lờ mờ, nên nhận biết chúng tôi còn

sáng, mực nước còn cao đến hai thước, chưa dám lội xuống, nơi ở về địa phận chợ Tồng Châu, cũng vững bụng. Ngồi yên đợi nào cũng trắng xóa, rều rác còn nồi trôi lềnh bềnh. Trong nửa tung bơi vùn-vụt, kêu gọi và tìm với những người bị nạn chờ giờ sau, thì có nhiều chiếc thuyền cứu nạn, từ chợ Tầng-Châu
vě cho.
Chiếc nầy chở đầy chèo đi, thì có những chiếc khác rảo khắp các nơi, tìm vớt rất nhiều nạn-nhơn, đều đói lạnh. Đến 10 giờ trưa ngày 16, thì nước rút xuống chỉ còn một thước. Đàn ông người thì công cha mẹ già, kẻ công con, dắt vợ lặn lội, đi xin nước uống và cơm ăn dở đói. Tại chợ có ban cứu-tế nấu cơm gạo lức và chở nước ngọt về phát cho mỗi người một vắc cơm với một bát nước đở lòng. Những người già yếu phần nhiều ngất- ngư (xiêu) nhờ ban cứu tế cứu chửa.

Lời Thơ Bảo nói :
Sáng ngày quên tuổi quên tên, Nhà cửa trôi hết đưa lên Bồ Đề, Lội lên nước mắt dầm dề.
Ở truồn ở lồ ê chề rán đi
Ông cã (ông Cã.Bình) làm phước ân thi Cạo lức nước mặn, ăn đi đở lòng. Nuốt cơm nước mắt ròng ròng.
Đói thì ăn vậy, trong lòng xót xa.
Vì kẽ mất mẹ còn cha
Người thì mất vợ, người thì mất con.

Chiều 16, những người còn sống, hợp đoàn với nhau, đi tìm thân nhơn. Mực nước tuy còn đọng đến đầu gối, xác người và xúc vật nồi lều bều, đồ đạc nằm bừa bải đầy đồng, những xóm đông nhà, chỉ còn một ít cây cột. Sáng ngày 17 nước cạn nhiều người ta đi khắp đó đây, dề lật kiếm những xác chết, đề tìm vợ con hoặc thân nhân, cha mẹ anh em. Có gia đình bị chết hết, không còn xót người nào. Thay nằm rải rác khắp nơi. Mai đến ngày 19 người ta mới tổ chức cuộc đi chôn xác, hề gặp đâu thì
chôn đó.

Thơ bảo nói :
Rủ nhau dập xác cho liền,
Cặp đâu chôn đó, chớ hề ai khiên. Thân chết chôn rồi đã yên.
Còn người sống sót, gạo tiền dầu ăn
Lúa đò bòn đảy lăng xăng.
Kẻ năm ba gia, đề dành hậu thân. Quan trên chân tế cho dân.
Phát gạo quần áo, đờ dần lúc nguy.

Nhà cửa xóm ấp đều trống trơn, không nơi dục đờ, đàn ông đi bòn một lá nát cây vụng, đem về cắt chòi. Đàn bà thì kiểm nồi niêu, chum việm, cần dùng và hốt lúa rơi vừa đồ, bòn đầy phơi khô xay nấu ăn.
Có cá biên mắc cạn nơi đồng ruộng, họ đi bắt rất nhiều. Những tay trộm cướp điểm đàn ở các nơi rủ ren thừa lúc nầy, lục soát xác chết của đàn bà, đề gở hoa tai và vòng vàng, hoặc chẽ rương lầy vàng bạc. Bất cã trâu bò, heo còn sống sót, đem về làm thịt ăn nhậu luôn. Tội nghiệp những con trâu còn sống, vì quá đói và khát nước, chạy đến vũng nầy trúng mềm xuống, gặp nước mặn không uống được. Lại vác mặt chạy đến vùng nước khác, đâu đâu cũng là nước mặn ; chỉ nghênh ngáo chạy hoài chịu đói khát đến năm ba ngày. Sau khi gặp chủ nó, đem về cho ăn uống, hình trâu ẩm, còn da bọc xương.

Thơ bảo nói :
Rủ nhau đi cất chòi mòng.
Xóm đâu về đó, cho quan lập làng. Vàm Láng nhiều tay điểm đàn.
Đến ở, trâu vịt bắt ngang ăn hoài.

Lại có những bọn gian manh, lấy danh nghĩa cứu tể nạn bảo lụt. Rảo đi khắp xứ, xin tiền bạc và lúa thóc, chở về bán xài. Lúc đầu đồng bào ở Lục tỉnh tưởng thật, họ giúp cho rất nhiều.
Nhưng sau rồi, chúng nó bị phát giác lòi mưu gian nhà chức trách bắt được bọn ấy, đem giam cầm và kêu án ngồi tù, thật
cũng đáng đời.


Thông tin thêm

Thống kê của chính quyền tỉnh Gò Công thời đó, có tới trên 5.000 người chết, hơn 80% súc vật chết và hơn 60% nhà dân bị sập trong cơn bão năm Thìn này. Từ đó, ca dao Gò Công có câu rằng:

“Gặp đây mới biết em còn/ Hồi năm bão lụt anh khóc mòn con ngươi”

Trích Gò Công Cảnh Củ Người Xưa – Việt Cúc